HOTLINE

HN: 0163 257 2242 - HCM: 0979 244 335
  • {product_img_alt}
  • {product_img_alt}
  • {product_img_alt}

Máy dò quặng vàng hiện đại và sâu nhất hiện nay GPZ 7000 Minelab Úc

Mã sản phẩm:
GPZ 7000
Trong kho:
Còn hàng
Bảo hành:
12 tháng
Giá bán:
Call
Công ty THB là đại lý ủy quyền duy nhất tại thị trường Việt Nam của hãng máy dò vàng số 1 thế giới Minelab - Australia
Download tài liệu

Hỗ Trợ Khách Hàng

Hà Nội: Số 116, Ngõ 203 Hoàng Quốc Việt, quận Cầu Giấy

Tel: (024) 3793 8604    |    Hotline: 0163 257 2242

TP Hồ Chí Minh: Số nhà LL1Bis đường Ba Vì, phường 15, quận 10

Tel: (028) 6686 0682    |    Hotline: 0163 257 2242 - 0979 244 335

  • Thông tin sản phẩm
  • Bài viết liên quan

Máy dò GPZ7000 là dòng máy dò vàng tự nhiên hiện đại nhất hiện nay của hãng Minelab. Máy có khả năng phát hiện vàng với độ sâu hơn 40% so với dòng GPX5000 và độ nhạy tối đa nhất trên tất cả các dạng cốm vàng, máy được nâng cấp thêm nhiều tính năng công nghệ mới, bao gồm cả âm thanh không dây, tích hợp GPS và khả năng không thấm nước.

Tính năng nổi bật:

  • Phát hiện vàng sâu nhất: Hơn 40% so với dòng GPX5000 cũ nhờ vào công nghệ ZVT mới mang tính cách mạng
  • Độ nhạy tối đa với vàng: Sự nhạy cảm đáng kinh ngạc của GPZ7000 với cuộn dây Super-D giúp cho người dùng có thể tìm thấy các cốm vàng sâu nhất và nhỏ nhất mà các dòng máy khác không thể tìm ra
  • Cân bằng mặt đất cực kỳ chính xác: Hầu hết vàng được chôn trong đất đai nhiều khoáng chất mà nhiều máy dò khác không thể cân bằng được nhưng với các GPZ 7000 có thể cân bằng loại bỏ khoáng chất chính xác nhất và và tự động 'theo dõi' trong những điều kiện đất nhiễm khoáng nặng nhất
  • Tăng cường khả năng chống nhiễu: GPZ 7000 có khả năng chống ồn nổi bật cho phép máy hoạt động rất trơn tru và yên tĩnh. Với 256 kênh hủy tiếng ồn
  • Hệ thống Menu thiết kế đơn giản: Meu được thiết kế đpn giản, dễ dàng sử dụng khi sử dụng
  • Kết nối âm thanh không dây: Sử dụng công nghiệt giao tiếp âm thanh không dây thuận tiện khi dò tìm.
  • Kết hợp GPS Định vị và quản lý bản đồ PC Mapping: Theo dõi xem vị trí của bạn và quản lý các điểm tìm kiếm, ghi lại các điểm yêu thích của bạn bằng cách lưu dữ liệu vào XChange 2 với Google Maps.
  • Cuộn dây chống nước tới 1 m: Các cuộn dây GPZ 14 là không thấm nước và chìm đến độ sâu 1 m. Bạn có thể dễ dàng tìm kiếm tại các con sông và bờ biển! Thiết kế chống thấm nước của GPZ 7000 cho phép bạn đi phát hiện trong điều kiện mưa hoặc ẩm ướt.

Bảng so sánh độ sâu, độ nhạy của GPZ7000 và SDC 2300 và các GPX 5000:

Công nghệ dò Vàng mới: Đây là một bước nhảy vọt trong hoạt động tìm vàng với công nghệ ZVT mới mang tính đột phá.

  • ZVT (Zero Voltage Transmission) tạo ra dòng điện công suất cao liên tục đối diện cực từ trường, tăng độ nhạy vàng. Công nghệ tiên tiến này phát hiện vàng cốm ở độ sâu cực lớn.
  • Super-D cuộn dây thông minh bao gồm một trung tâm truyền quanh co và hai bên ngoài được cuộn dây. Cấu hình này làm giảm rất nhiều sự can thiệp từ đất từ, giảm tiếng ồn mặt đất.
  • GPSI sử dụng GPS au-blox để tích hợp dữ liệu vị trí và thời gian với thiết lập dò. Điều này tạo ra điểm tham chiếu, FindPoint và GeoHunt file để sử dụng với XChange 2.
  • Wi-Stream sử dụng ít năng lượng truyền tải âm thanh kỹ thuật số để nhận biết âm thanh thời gian trễ (<10 ms). Điều này cung cấp độ tin cậy và chất lượng âm thanh tối đa.

Đặc điểm kỹ thuật

Công nghệ

ZVT

Tần số / Transmission

Zero Voltage Transmission  (ZVT)

Cuộn dây (tiêu chuẩn)

14 "x 13" Super-D  (không thấm nước đến 1 m)

Đầu ra âm thanh

6.3 mm (¼ ") không ổ cắm chống thấm nước, Wi-Stream truyền tín hiệu không dây

Tai nghe

KOSS UR 30 100 ohm với 6,3 mm cắm (¼-inch) (không thấm nước)

Hình ảnh hiển thị

Đầy đủ màu sắc màn hình LCD (320 x 240 pixel)

Đèn nền

Kết nối USB

giao diện USB cho XChange phần mềm 2 PC

Bộ nhớ

Phát hiện chế độ

Gold Mode (High Yield, General, Extra Deep)

Ground Type (Normal, Difficult, Severe)

Phân biệt

Tất cả các kim loại

Giai điệu âm thanh

1-100

Cân bằng đất

Tự động và bằng tay (Quick-Trak nút kích hoạt)

Độ nhạy Điều chỉnh

Cấp (1-20)

Tune / Hủy Tiếng ồn

Tự động và bằng tay (256 kênh)

Ngưỡng

Cấp (1-50) Pitch (1-100)

Điều chỉnh âm thanh

(1-20)

Ắc quy

Li-Ion sạc Pack (7.2V DC, 72Wh)

Cảnh báo pin yếu

Cân nặng

3,32 kg (7.32 lb) (Bao gồm GPZ 14 cuộn dây, skidplate và pin 72Wh)

Tiết kiệm thời gian tìm đãi vàng sa khoáng bằng máy dò vàng chuyên dụng

THB xin giới thiệu một trong các dòng máy dò vàng hiện đại nhất của Mỹ Gold Bug của Fisher giúp người tìm vàng tiết kiệm thời gian, công sức và tăng hiệu quả trong quá trình tìm vàng


Ở các mỏ sa khoáng, vàng thường lắng đọng lẫn với cát. Vì có tỷ trọng lớn, rất nặng, nên vàng và một số khoáng vật khác từ các mạch gốc phong hóa bị dòng nước cuốn trôi đã đọng lại ở những nơi thuận lợi, ít khi ở xa mỏ nguyên sinh.

Để tách vàng khỏi sa khoáng, người ta phải tuyển quặng. Dân gian gọi phương pháp sàng tuyển thủ công này là "đãi cát lấy vàng". Từ thời xa xưa đến ngày nay, tại rất nhiều nơi, nhân dân ta vẫn dùng cách đãi cát để lấy vàng bằng các dụng cụ thô sơ và bằng sức người là chính, vất vả thật đấy nhưng thu nhập thường rất cao. Việc đãi vàng vì thế đã trở thành một nghề cổ truyền của nhân dân ta.

Khai thác vàng ở đáy biển và thềm lục địa của ta chưa được tiến hành. Chúng ta chưa có đủ điều kiện và phương tiện cần thiết để điều tra kỹ càng về trữ lượng mỏ khoáng sản kim loại, trong đó có vàng, ở vùng biển quốc gia của Việt Nam, cũng như chưa đủ vốn để đầu tư khai thác.

Trong điều kiện hiện nay, khai thác vàng sa khoáng bằng cách thủ công vẫn cần được khuyến khích ở nước ta. Song phương pháp thô sơ, như kiểu ''đãi cát lấy vàng'', tuy có thu được số lượng vàng đáng kể thì cũng phải nhận rằng một lượng rất lớn tài nguyên vàng đã bị thất thoát đáng tiếc do việc loại bỏ đá cuội lẫn vàng và các kim loại khác.

Tuy nhiên ngày nay đã có những máy dò vàng được sản xuất ra để phục vụ một mục đích duy nhất là đi tìm quặng vàng tự nhiên. Những loại máy dò vàng hiện đại này đã được sử dụng ở rất nhiều nơi trên thế giới như: Châu Mỹ, Châu Phi, Châu Úc, Châu Âu. Các loại máy này có thể phát hiện được những cốm vàng nhỏ nhất lẫn trong đất đá, cát, sỏi một cách nhanh chóng, giúp người đi tìm vàng không mất nhiều thời gian để đãi vàng (do việc đãi vàng tốn nhiều thời gan, công sức và phải gần nguồn nước)

Độ sâu phát hiện của các máy dò vàng công nghệ cao này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: Kích thước quặng vàng, độ khoáng trong đất cát sỏi ... Nhưng trung bình là khoảng từ 10cm cho những cốm nhỏ nhất và 20-30 cm cho những cốm vàng to như hạt đậu. (Chú ý: Không có loại máy dò nào trên thế giới có thể dò quặng vàng sâu đến hơn 1m như những người đi tìm vàng mong muốn, nếu muốn dò sâu xuống phải đào hầm hố sâu xuống lòng đất như các nhà tìm vàng ở Mỹ, Úc hay làm)

THB xin giới thiệu một trong các dòng máy tìm vàng hiện đại nhất của Mỹ mà công ty đã phân phối Gold Bug của Fisher

Xem chi tiết tại: http://maydopro.com/may-do-vang-bac

Tham khảo thêm cách Dò Vàng thông qua các Video sau:

 
 
 
 

 

Cách đãi vàng tại Việt Nam

Dụng cụ chính của người dân đãi vàng là cuốc, xẻng để đào, gầu để xúc cát sông, mâm đãi hoặc món đãi để tuyển khoáng nặng có lẫn chứa vàng. Tùy theo vật liệu có được, có thể tự chế ra mâm đãi hay nón đãi. Thông thường, ta dùng nắp hay đáy thùng phuy có đường kính 60 - 80cm để chế tạo mâm đãi.

Cách làm như sau:

Đầu tiên đào một hố hình lòng chảo, nèn chắc, đáy sâu nhất chừng 10 cm, đường kính miệng hố nhỏ hơn đường kính của nắp hay dây thùng phuy có được. Sau đó, đặt tấm sắt đáy hay nắp phuy ấy lên miệng hố, rồi dùng búa hoặc chày nện vào tâm miệng sắt cho lõm xuống, sao cho đáy lõm lượn thật đều theo hình lòng chảo của hố đất. Cuối cùng ta dùng đầu xà beng hay đầu thanh sắt to, tống mạnh tay vào chính giữa đáy lòng chảo để tạo mấu lõm xuống 1cm như sóp cái nón.

Thế là một dụng cụ đãi vàng đã được tạo xong. Nhân dân mỗi nơi gọi nó bằng một tên khác nhau: nón đãi, mâm đãi, bồn đãi. Việc tạo tác công cụ đãi vàng đơn giản như vậy và không tốn kém bao nhiêu, người ta tự làm lấy được. Rồi nhu cầu sử dụng lớn dần do số người đãi nhiều lên, công việc chế tạo nón (mâm) đãi được chuyên môn hóa. Các lò rèn địa phương lo việc chế tác này theo quy cách thích hợp và theo yêu cầu đặt hàng theo mẫu. Tất nhiên là xưa kia chưa có thùng phuy, người ta dùng sắt cán, đồng tấm hoặc các vật liệu tương ứng để gò nón đãi, thậm chí dùng gỗ để đóng bồn đãi...

Cách đãi vàng đơn giản nhất là cho tất cả cát, đất, đá, bùn vào nón đãi. Nghiêng nón cho nước tràn vào. Bóp vụn hết đất và cục sét, rửa sạch cuội rồi vứt bớt cho đỡ nặng. Hai tay cầm hai mép nón đãi, xoay đi xoay lại hai chiều xuôi ngược kim đồng hồ ở dưới mặt nước. Bùn và khoáng vật nhẹ sẽ nổi dần lên, văng ra theo lực li tâm và trôi đi. Cứ như thế, làm nhiều lần cho đến khi nước trong. Nghiêng nón nhắc lên cho nước ra, sẽ thu được các khoáng nặng màu đen và vàng đọng lại ở nón đãi. Bây giờ chỉ việc lấy riêng vàng ra khỏi các khoáng nặng khác, việc này rất dễ dàng.

Việc tách tinh vàng trong khoáng vật có màu đen - gồm vàng và các khoáng vật nặng, hoàn toàn dễ dàng khi ta dùng một cái đĩa nhỏ và đãi trong một chậu nước trong như cách đãi gạo, đãi vừng để rang, nấu ăn.

Nhược điểm của phương pháp đãi vàng nói trên là rất lớn, tựu chung có mấy điểm đáng quan tâm sau đây:

- Không thu hồi triệt để vàng còn lẫn trong bùn dưới dạng bụi, rất mạt mịn. Số lượng vàng khá lớn nằm trong cuội cũng bị thải theo đá, gây nên lãng phí tài nguyên quốc gia.

- Các khoáng hữu ích và quý giá khác nằm chung với vàng không được tận thu như đồng, chì, sắt, ma - nhê, măng - gan, thiếc, bạc, v.v...

- Không đãi vàng được nếu ở mỏ hay gần mỏ không có nước sông, suối, đầm, lạch. Ở nơi có đủ nước để đãi, người lao động phải ngâm mình dưới nước quá lâu, dễ ốm đau, bệnh
tật. Dòng nước nơi đãi vàng bị bẩn đục, vệ sinh không bảo đảm.

Về mặt kỹ thuật, dù muốn hay không, trong công việc đãi sa khoáng có ba thao tác tuần tự phải thể hiện, đó là: a) Khuấy tách đất sét, cát và đá cuội ra; b) Rửa để loại đá cuội và thải sạch các loại khoáng vật có tỷ trọng thấp ra ngoài; c) Đãi tinh sa khoáng, tức là giữ lại các khoáng vật nặng (tỷ trọng lớn) có lẫn vàng.

Các dụng cụ để thực hiện ba thao tác trên đây là thuyền đãi, máng đãi.

Thuyền đãi:

Thuyền đãi thường làm bằng gỗ, vừa nhẹ vừa dễ sử dụng và mang đi lại, giá thành hạ. Lòng thuyền hình bầu dục. Có hai tay cầm hai bên để cầm đãi vàng.

Cách dùng thuyền để đãi tương đối đơn giản, ai cũng làm được chỉ cần có sức khỏe Người ta đặt nghiêng thuyền sao cho già nửa thuyền chìm xuống nước. Quấy trộn khoáng vật trong thuyền bằng một cây chà bằng tre hay gỗ tựa các đũa cả loại to. Rồi bóp bằng tay cho nát nhiễn đất sét và chà xát các cục đá trong thuyền đãi. Chao đi chao lại thuyền nhiều lần bùn và đất đá nhẹ sẽ văng ra ngoài cho đến hết. Còn lại ở đáy thuyền, do lắng đọng, các khoáng vật nặng có lẫn vàng. Đó là các khoáng vật có màu đen, đem đãi như đãi gạo như đã nói sẽ vật nặng có lẫn vàng. Đó là các khoáng vật có màu đen, đem đãi như đãi gạo như đã nói sẽ được vàng, gọi là vàng cốm hay vàng nguyên khai.

Kiểu thuyền đãi thứ hai là thuyền đãi độc mộc. Loại thuyền này được tạo từ một khe gỗ nguyên, tựa như cách làm chiếc thuyền độc mộc để đi lại trong vùng đầm lầy trước đây.

Thuyền không ghép bằng nhiều tấm gỗ nhằm tránh sự cong vênh, nứt nẻ và khe hở nơi gỗ tiếp giáp nhau. Do đó, dùng thuyền đãi độc mộc không bị lọt mất sa khoáng nặng có lẫn vàng, nhất là tinh vàng hay mạt vàng có đường kính bạt quá nhỏ bé.

Trên mặt thuyền đãi độc mộc, người ta đóng thêm các thanh gờ nổi bậc thang. Khi đãi, nếu nghiêng thuyền quá mức cần thiết thì quặng vẫn bị kẹt lại ở chân gờ bậc thang, đồng thời dễ dàng lấy quặng tỷ trọng lớn lắng đọng trong thuyền.

Do ưu thế và tác dụng tốt của nó, người ta ứng dụng nguyên tắc cấu tạo thuyền đãi độc mộc trong việc chế tạo máng đãi thủ công.

Có thể nói các loại thuyền đãi vừa nêu có nhiều ưu điểm. Đây là loại công cụ đãi vàng dùng cho cá nhân và đãi bằng tay rất cơ động, gọn nhẹ, dễ mang theo người đến bất cứ nơi nào kể cả nơi heo hút đi lại không thuận tiện.

Tuy vậy, dùng loại thuyền đãi mỗi mẻ chỉ tối đa 8 - 10 kg đất đá, năng suất đãi không cao. Cách đãi bằng thuyền nhất thiết phải bê bằng tay làm cho người lao động mất nhiều sức quá vất vả.

Để khắc phục nhược điểm đó, người ta dùng loại công cụ khác máng đãi có năng suất cao hơn.

Máng đãi:

Máng đãi vàng đóng bằng gỗ với kích thước: dài 3 - 4m, rộng 50 cm. Dùng bao tải hoặc vải thô lót đáy máng và dùng các thanh gỗ nhỏ gắn ngang các bậc thành gờ để chắn quặng sao cho sau mỗi mẻ đãi có thể tháo lắp thật dễ dàng. Máng đãi rất thích hợp đối với nhóm làm việc quy mô gia đình, hoặc những người làm vàng có sự thân thiết, tin cậy nhau. Ở một số mỏ vàng nước ta như Bồng Miêu (Quảng Nam - Đà nẵng), Trà Năng (Lâm Đồng) v.v... đã dùng loại công cụ này để đãi có kết quả tốt. Người ta đặt máng nghiêng so với mặt phẳng nằm ngang, độ nghiêng tùy theo lưu lượng và tốc độ dòng chảy. Thông thường, độ nghiêng vừa phải là 0,10 tức là cứ mỗi mét chiều dài của máng có chênh lệch nhiều cao 10cm. Nơi đầu máng có nguồn nước chảy vào nên để quặng tập kết thành đống tại đấy để tiện xúc vào máng đãi. Ở nơi có khe suối, người ta tìm cách bắt dòng nước chảy vào máng đãi rất thuận. Nhưng ở nơi không có suối phải dùng bơm để đưa nước vào. Mỗi máng đãi theo quy trình này cần tối thiểu ba người làm, hai người xúc khoáng vật đổ vào máng, một người chuyên khuấy và kiểm tra toàn hệ thống máng nhằm đảm bảo không bị nghẽn tắc.

Tùy địa hình cụ thể, máng có thể đặt thẳng, có thể đặt gấp khúc. Nếu dòng nước quá mạnh thì chính nơi gấp góc trở thành một thuận lợi cho quặng dễ lắng đọng. Ở cuối máng, người ta căng một bao tải khác để chắn quặng, tránh vàng thất thoát theo dòng nước. Dùng bao tải vừa rẻ tiền vừa dễ thoát nước, mà sợi bao lại bắt dính các hạt quặng nhỏ làm cho chúng không thoát mất theo nước ra ngoài.

Đãi xong một mẻ, người ta gỡ các bao tải khỏi máng và đem rũ trong một chậu nước để thu quặng màu đen có lẫn vàng. Công việc cuối cùng - sau nhiều mẻ đãi - đem đãi tinh sa khoáng nặng ở đáy chậu, sẽ lấy được vàng cục và vàng cám.

Theo kinh nghiệm của nhân dân, mỗi ngày trung bình một nhóm 3 - 4 người dùng máng có thể đãi được không 8 - 10m3 đất đá có chứa vàng.

Máng lắc:

Nơi có địa hình thuận lợi, người ta dùng máng lắc.

Máng lắc cấu tạo gồm hai bộ phận: một máng gỗ có gờ ở đáy và một Cái Sàng bằng lưới thép mắt rộng 1 - 2cm2. Sàng được đặt trên máng gỗ, tất cả được treo vào cành cây hoặc giá đỡ bằng tre hay gỗ. Như vậy, có thể lắc đi lắc lại máng sàng dọc ngang tùy ý mà khôngphải bê bằng tay như khi sử dụng nón đãi.

Dùng máng sàng đỡ sức lao động. Hơn nữa, cùng một lúc vừa sang bỏ đá cục to vừa tuyển lựa và giữ lại các khoáng nặng trong khi sàng lắc. Chỉ cần lưu ý trọng lượng đất đá mỗi mẻ không vượt quá sức căng của dây treo và sức người đẩy lắc sàng máng.

Tóm lại, các loại máng nói trên chỉ là công cụ thủ công, thích ứng với quy mô đào đãi nhỏ, không dùng trong sản xuất quy mô công nghiệp khai thác kim loại quý này.

Các cơ sở, xí nghiệp khai thác vàng có công suất lớn, người ta phải lắp đặt dây chuyền tuyển quặng hiện đại. Ở các nước công nghiệp phát triển, việc khai thác và tuyển vàng đã sử dụng các dây chuyền công nghệ mới, các khâu đào, xúc, vận chuyển, tuyển khoáng, tinh lọc vàng đều được cơ giới hóa. Người ta còn tận dụng phế thải của các lần khai thác trước đây để tận thu vàng. Việc khai thác vàng sa khoáng ở đáy biển và thềm lục địa cũng được tiến hành và các phương tiện tối tân cũng được đem áp dụng. Người ta dùng tàu chuyên dụng, được trang bị như một nhà máy liên hợp nổi để khai thác vàng sa khoáng biển, với các phân xưởng xử lý quặng, máy phát diện, phòng phân tích các số liệu bằng máy vi tính thế hệ mới nhất... Bên cạnh đó còn có tàu vận tải quặng vào đất liền để sản xuất vàng.


Các tin khác

  • Máy dò vàng tự nhiên khác với các máy dò khác như thế nào
  • Hành trình tìm vàng dưới lòng đất
  • Cách đãi Vàng Sa Khoáng tại Việt Nam
  • Tìm thấy vàng cốm khi sử dụng máy dò Gold Bug Pro
  • Có thể bạn quan tâm