Dụng cụ chính của người dân đãi vàng là cuốc, xẻng để đào, gầu để xúc cát sông, mâm đãi hoặc món đãi để tuyển khoáng nặng có lẫn chứa vàng. Tùy theo vật liệu có được, có thể tự chế ra mâm đãi hay nón đãi. Thông thường, ta dùng nắp hay đáy thùng phuy có đường kính 60 - 80cm để chế tạo mâm đãi.

Cách làm như sau:

Đầu tiên đào một hố hình lòng chảo, nèn chắc, đáy sâu nhất chừng 10 cm, đường kính miệng hố nhỏ hơn đường kính của nắp hay dây thùng phuy có được. Sau đó, đặt tấm sắt đáy hay nắp phuy ấy lên miệng hố, rồi dùng búa hoặc chày nện vào tâm miệng sắt cho lõm xuống, sao cho đáy lõm lượn thật đều theo hình lòng chảo của hố đất. Cuối cùng ta dùng đầu xà beng hay đầu thanh sắt to, tống mạnh tay vào chính giữa đáy lòng chảo để tạo mấu lõm xuống 1cm như sóp cái nón.

Thế là một dụng cụ đãi vàng đã được tạo xong. Nhân dân mỗi nơi gọi nó bằng một tên khác nhau: nón đãi, mâm đãi, bồn đãi. Việc tạo tác công cụ đãi vàng đơn giản như vậy và không tốn kém bao nhiêu, người ta tự làm lấy   được. Rồi nhu cầu sử dụng lớn dần do số người đãi nhiều lên, công việc chế tạo nón (mâm) đãi được chuyên môn hóa. Các lò rèn địa phương lo việc chế tác này theo quy cách thích hợp và theo yêu cầu đặt hàng theo mẫu. Tất
nhiên là xưa kia chưa có thùng phuy, người ta dùng sắt cán, đồng tấm hoặc các vật liệu tương ứng để gò nón đãi, thậm chí dùng gỗ để đóng bồn đãi...

Cách đãi vàng đơn giản nhất là cho tất cả cát, đất, đá, bùn vào nón đãi. Nghiêng nón cho nước tràn vào. Bóp vụn hết đất và cục sét, rửa sạch cuội rồi vứt bớt cho đỡ nặng. Hai tay cầm hai mép nón đãi, xoay đi xoay lại hai chiều xuôi ngược kim đồng hồ ở dưới mặt nước. Bùn và khoáng vật nhẹ sẽ nổi dần lên, văng ra theo lực li tâm và trôi đi. Cứ như thế, làm nhiều lần cho đến khi nước trong. Nghiêng nón nhắc lên cho nước ra, sẽ thu được các khoáng nặng màu đen và vàng đọng lại ở nón đãi. Bây giờ chỉ việc lấy riêng vàng ra khỏi các khoáng nặng khác, việc này rất dễ dàng.

Việc tách tinh vàng trong khoáng vật có màu đen - gồm vàng và các khoáng vật nặng, hoàn toàn dễ dàng khi ta dùng một cái đĩa nhỏ và đãi trong một chậu nước trong như cách đãi gạo, đãi vừng để rang, nấu ăn.

Nhược điểm của phương pháp đãi vàng nói trên là rất lớn, tựu chung có mấy điểm đáng quan tâm sau đây:

- Không thu hồi triệt để vàng còn lẫn trong bùn dưới dạng bụi, rất mạt mịn. Số lượng vàng khá lớn nằm trong cuội cũng bị thải theo đá, gây nên lãng phí tài nguyên quốc gia.

- Các khoáng hữu ích và quý giá khác nằm chung với vàng không được tận thu như đồng, chì, sắt, ma - nhê, măng - gan, thiếc, bạc, v.v...

- Không đãi vàng được nếu ở mỏ hay gần mỏ không có nước sông, suối, đầm, lạch. Ở nơi có đủ nước để đãi, người lao động phải ngâm mình dưới nước quá lâu, dễ ốm đau, bệnh
tật. Dòng nước nơi đãi vàng bị bẩn đục, vệ sinh không bảo đảm.

Về mặt kỹ thuật, dù muốn hay không, trong công việc đãi sa khoáng có ba thao tác tuần tự phải thể hiện, đó là: a) Khuấy tách đất sét, cát và đá cuội ra; b) Rửa để loại đá cuội và thải sạch các loại khoáng vật có tỷ trọng thấp ra ngoài; c) Đãi tinh sa khoáng, tức là giữ lại các khoáng vật nặng (tỷ trọng lớn) có lẫn vàng.

Các dụng cụ để thực hiện ba thao tác trên đây là thuyền đãi, máng đãi.

Thuyền đãi:

Thuyền đãi thường làm bằng gỗ, vừa nhẹ vừa dễ sử dụng và mang đi lại, giá thành hạ. Lòng thuyền hình bầu dục. Có hai tay cầm hai bên để cầm đãi vàng.

Cách dùng thuyền để đãi tương đối đơn giản, ai cũng làm được chỉ cần có sức khỏe Người ta đặt nghiêng thuyền sao cho già nửa thuyền chìm xuống nước. Quấy trộn khoáng vật trong thuyền bằng một cây chà bằng tre hay gỗ tựa các đũa cả loại to. Rồi bóp bằng tay cho nát nhiễn đất sét và chà xát các cục đá trong thuyền đãi. Chao đi chao lại thuyền nhiều lần bùn và đất đá nhẹ sẽ văng ra ngoài cho đến hết. Còn lại ở đáy thuyền, do lắng đọng, các khoáng vật nặng có lẫn vàng. Đó là các khoáng vật có màu đen, đem đãi như đãi gạo như đã nói sẽ vật nặng có lẫn vàng. Đó là các khoáng vật có màu đen, đem đãi như đãi gạo như đã nói sẽ được vàng, gọi là vàng cốm hay vàng nguyên khai.

Kiểu thuyền đãi thứ hai là thuyền đãi độc mộc. Loại thuyền này được tạo từ một khe gỗ nguyên, tựa như cách làm chiếc thuyền độc mộc để đi lại trong vùng đầm lầy trước đây.

Thuyền không ghép bằng nhiều tấm gỗ nhằm tránh sự cong vênh, nứt nẻ và khe hở nơi gỗ tiếp giáp nhau. Do đó, dùng thuyền đãi độc mộc không bị lọt mất sa khoáng nặng có lẫn vàng, nhất là tinh vàng hay mạt vàng có đường kính bạt quá nhỏ bé.

Trên mặt thuyền đãi độc mộc, người ta đóng thêm các thanh gờ nổi bậc thang. Khi đãi, nếu nghiêng thuyền quá mức cần thiết thì quặng vẫn bị kẹt lại ở chân gờ bậc thang, đồng thời dễ dàng lấy quặng tỷ trọng lớn lắng đọng trong thuyền.

Do ưu thế và tác dụng tốt của nó, người ta ứng dụng nguyên tắc cấu tạo thuyền đãi độc mộc trong việc chế tạo máng đãi thủ công.

Có thể nói các loại thuyền đãi vừa nêu có nhiều ưu điểm. Đây là loại công cụ đãi vàng dùng cho cá nhân và đãi bằng tay rất cơ động, gọn nhẹ, dễ mang theo người đến bất cứ nơi nào kể cả nơi heo hút đi lại không thuận tiện.
Tuy vậy, dùng loại thuyền đãi mỗi mẻ chỉ tối đa 8 - 10 kg đất đá, năng suất đãi không cao. Cách đãi bằng thuyền nhất thiết phải bê bằng tay làm cho người lao động mất nhiều sức quá vất vả.

Để khắc phục nhược điểm đó, người ta dùng loại công cụ khác máng đãi có năng suất cao hơn.

Máng đãi:

Máng đãi vàng đóng bằng gỗ với kích thước: dài 3 - 4m, rộng 50 cm. Dùng bao tải hoặc vải thô lót đáy máng và dùng các thanh gỗ nhỏ gắn ngang các bậc thành gờ để chắn quặng sao cho sau mỗi mẻ đãi có thể tháo lắp thật dễ dàng. Máng đãi rất thích hợp đối với nhóm làm việc quy mô gia đình, hoặc những người làm vàng có sự thân thiết, tin cậy nhau. Ở một số mỏ vàng nước ta như Bồng Miêu (Quảng Nam - Đà nẵng), Trà Năng (Lâm Đồng) v.v... đã dùng loại công cụ này để đãi có kết quả tốt. Người ta đặt máng nghiêng so với mặt phẳng nằm ngang, độ nghiêng tùy theo lưu lượng và tốc độ dòng chảy. Thông thường, độ nghiêng vừa phải là 0,10 tức là cứ mỗi mét chiều dài của máng có chênh lệch nhiều cao 10cm. Nơi đầu máng có nguồn nước chảy vào nên để quặng tập kết thành đống tại đấy để tiện xúc vào máng đãi. Ở nơi có khe suối, người ta tìm cách bắt dòng nước chảy vào máng đãi rất thuận. Nhưng ở nơi không có suối phải dùng bơm để đưa nước vào. Mỗi máng đãi theo quy trình này cần tối thiểu ba người làm, hai người xúc khoáng vật đổ vào máng, một người chuyên khuấy và kiểm tra toàn hệ thống máng nhằm đảm bảo không bị nghẽn tắc.

Tùy địa hình cụ thể, máng có thể đặt thẳng, có thể đặt gấp khúc. Nếu dòng nước quá mạnh thì chính nơi gấp góc trở thành một thuận lợi cho quặng dễ lắng đọng. Ở cuối máng, người ta căng một bao tải khác để chắn quặng, tránh vàng thất thoát theo dòng nước. Dùng bao tải vừa rẻ tiền vừa dễ thoát nước, mà sợi bao lại bắt dính các hạt quặng nhỏ làm cho chúng không thoát mất theo nước ra ngoài.

Đãi xong một mẻ, người ta gỡ các bao tải khỏi máng và đem rũ trong một chậu nước để thu quặng màu đen có lẫn vàng. Công việc cuối cùng - sau nhiều mẻ đãi - đem đãi tinh sa khoáng nặng ở đáy chậu, sẽ lấy được vàng cục và vàng cám.

Theo kinh nghiệm của nhân dân, mỗi ngày trung bình một nhóm 3 - 4 người dùng máng có thể đãi được không 8 - 10m3 đất đá có chứa vàng.

Máng lắc:

Nơi có địa hình thuận lợi, người ta dùng máng lắc.

Máng lắc cấu tạo gồm hai bộ phận: một máng gỗ có gờ ở đáy và một Cái Sàng bằng lưới thép mắt rộng 1 - 2cm2. Sàng được đặt trên máng gỗ, tất cả được treo vào cành cây hoặc giá đỡ bằng tre hay gỗ. Như vậy, có thể lắc đi lắc lại máng sàng dọc ngang tùy ý mà khôngphải bê bằng tay như khi sử dụng nón đãi.

Dùng máng sàng đỡ sức lao động. Hơn nữa, cùng một lúc vừa sang bỏ đá cục to vừa tuyển lựa và giữ lại các khoáng nặng trong khi sàng lắc. Chỉ cần lưu ý trọng lượng đất đá mỗi mẻ không vượt quá sức căng của dây treo và sức người đẩy lắc sàng máng.

Tóm lại, các loại máng nói trên chỉ là công cụ thủ công, thích ứng với quy mô đào đãi nhỏ, không dùng trong sản xuất quy mô công nghiệp khai thác kim loại quý này.

Các cơ sở, xí nghiệp khai thác vàng có công suất lớn, người ta phải lắp đặt dây chuyền tuyển quặng hiện đại. Ở các nước công nghiệp phát triển, việc khai thác và tuyển vàng đã sử dụng các dây chuyền công nghệ mới, các khâu đào, xúc, vận chuyển, tuyển khoáng, tinh lọc vàng đều được cơ giới hóa. Người ta còn tận dụng phế thải của các lần khai thác trước đây để tận thu vàng. Việc khai thác vàng sa khoáng ở đáy biển và thềm lục địa cũng
được tiến hành và các phương tiện tối tân cũng được đem áp dụng. Người ta dùng tàu chuyên dụng, được trang bị như một nhà máy liên hợp nổi để khai thác vàng sa khoáng biển, với các phân xưởng xử lý quặng, máy phát diện, phòng phân tích các số liệu bằng máy vi tính thế hệ mới nhất... Bên cạnh đó còn có tàu vận tải quặng vào đất liền để sản xuất vàng.

Sản lượng vàng khai thác từ đáy biển ở một số nước rất lớn. Chẳng hạn, ở Scốt - len, người ta khai thác mỏ vàng ở độ sâu 25 - 45 mét dưới mặt biển. Mỏ này có trữ lượng 30 triệu m3 cát với hàm lượng vàng 0,54 gram/1m3 , tính ra có thể lấy được 15 tấn vàng nguyên chất.

Khai thác vàng ở đáy biển và thềm lục địa của ta chưa được tiến hành. Chúng ta chưa có đủ điều kiện và phương tiện cần thiết để điều tra kỹ càng về trữ lượng mỏ khoáng sản kim loại, trong đó có vàng, ở vùng biển quốc gia của Việt Nam, cũng như chưa đủ vốn để đầu tư khai thác.

Trong điều kiện hiện nay, khai thác vàng sa khoáng bằng cách thủ công vẫn cần được khuyến khích ở nước ta. Song phương pháp thô sơ, như kiểu ''đãi cát lấy vàng'', tuy có thu được số lượng vàng đáng kể thì cũng phải nhận rằng một lượng rất lớn tài nguyên vàng đã bị thất thoát đáng tiếc do việc loại bỏ đá cuội lẫn vàng và các kim loại khác. Để tránh lãng phí nguồn của cải này, người ta phải áp dụng một phương pháp tách vàng bằng nhiệt, gọi là cách nung luyện phân kim.

Xem thêm: May Do Kim Loai  |  Máy Dò Vàng